Thứ Ba, 17 tháng 1, 2012

Bình luận kiếm hiệp: NỮ NHÂN VÀ QUYỀN LỰC



Một điểm khiến tác phẩm của Kim Dung nổi trội hơn những tác phẩm kiếm hiệp cùng thời, đó là tính tư tưởng và chiều sâu của nhân vật. Cũng như những triết gia sinh ra trong buổi tao loạn, Kim Dung đã luôn mơ ước một giấc mơ đại đồng. Chính vì vậy, ông đã dựng nên hàng loạt những mẫu nhân vật anh hùng chí tình chí nghĩa, sống thuận theo lẽ tự nhiên, thấm nhuần hai chữ tri túc, biết bước qua oán hận và rũ bỏ vòng kiềm tỏa của quyền lực.


1.Kim Dung nếu không dị ứng với quyền lực thì cũng không mấy thích thú với trò chơi quyền lực. Trong cuộc sống, Kim Dung không ít lần va chạm với quyền lực. Năm 16 tuổi, ông từng bị đuổi học vì viết truyện châm biếm ngài chủ nhiệm ban huấn đạo. Năm 19 tuổi, ông tố cáo một vụ bê bối trong trường và bị đuổi học lần hai. Sau này, khi lập ra Minh Báo và viết nên hàng loạt tác phẩm kiếm hiệp rung động hàng triệu độc giả, đó lại là lúc tác phẩm của Kim Dung bị cấm ở cả Đài Loan và ở Đại lục Trung Quốc.
Phải chăng vì thế mà những nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung đã tạo nên những cuộc cách mạng khác thường. Nếu như những người hùng truyền thống của tiểu thuyết kiếm hiệp vô tình hay hữu ý đều lên ngôi cao Minh chủ võ lâm, trở thành một thứ Hoàng đế của giang hồ thì những nhân vật mang tham vọng quyền lực trong tiểu thuyết Kim Dung thường chịu những kết cục không có hậu. Tả Lãnh Thiền phơi xác trong lòng hang động núi Hoa Sơn. Nhạc Bất Quần thân tàn ma dại, chết dưới lưỡi dao của ni cô Nghi Lâm. Nhậm Ngã Hành chết bất đắc kỳ tử. Mộ Dung Công Tử điên loạn bên nấm mộ hoang. Lý Tự Thành có quyền lực trong tay bỗng biến đổi từ một người hùng áo vải thành kẻ hôn quân. Bên cạnh đó, Kim Dung đã dựng nên những hình tượng phụ nữ với tham vọng quyền lực mạnh mẽ. Đó chính là Đệ nhị và Đệ tam Chưởng môn phái Nga Mi: Diệt Tuyệt Sư Thái và Chu Chỉ Nhược trong bộ trường thiên tiểu thuyết Ỷ Thiên Đồ Long ký.
Sẽ có người phản đối. Diệt Tuyệt Sư Thái là thích thiện ghét ác, đáng được tôn trọng. Còn cô gái Chu Chỉ Nhược là người ôn nhu kiều mỵ. Tại sao hai người đó lại có tham vọng quyền lực được? Sự thực có phải vậy không?
Diệt Tuyệt Sư Thái có vẻ là một người mù quáng với lý tưởng của mình. Bà là người quyết liệt với nguyên tắc chứ không phải là người tham vọng. Đó chỉ là những biểu hiện bên ngoài. Bên trong con người này lại là một khát khao quyền lực to lớn.

2.Mục đích thực sự của Diệt Tuyệt Sư Thái đã phát lộ phần nào khi bà trao nhẫn Chưởng môn lại cho Chu Chỉ Nhược: “Cuộc đời ta, bình sinh có hai tâm nguyện lớn, một là làm sao đuổi bọn Thát tử, lấy lại giang sơn cho người Hán, hai là làm sao cho võ công phái Nga My đứng đầu thiên hạ, vượt cả Thiếu Lâm, Võ Đang, trở thành môn phái số một ở Trung Nguyên". Đối với một người phụ nữ, đây là một câu nói hào khí lẫm lẫm. Nhưng liệu tâm nguyện của bà liệu có thực sự như vậy không?
Mục đích đầu tiên của Diệt Tuyệt Sư Thái là đánh đổ triều đình nhà Nguyên, giành lại giang sơn cho người Hán. Tổ chức chống triều đình mạnh mẽ nhất và có tiềm lực nhất lại là Minh Giáo. Theo lẽ thường, Sư Thái phải chung tay giúp đỡ Minh Giáo mới đúng. Đằng này bà luôn tìm cách đối đầu, tàn sát giáo chúng Minh Giáo, coi Minh Giáo như cái gai trong mắt, thề một lòng “diệt tuyệt”. Mục tiêu chống lại Nguyên triều của bà xem ra chỉ là cái vỏ. Dương oai võ công Nga My lên hàng số một Trung Nguyên thực ra mới là tâm nguyện thực sự.
Để thực hiện tâm nguyện của mình, Diệt Tuyệt Sư Thái đã không từ một thủ đoạn nào. Khi bị quân triều đình bắt giam ở chùa Vạn An, chứng kiến võ công của những cao thủ võ lâm Nguyên triều và bản lĩnh tuyệt luân của các anh hùng Minh Giáo, bà đã tự biết rằng mình sẽ không thể nào đưa Nga Mi phái lên vị trí hàng đầu võ lâm Trung Nguyên bằng thực lực. Diệt Tuyệt Sư Thái dồn mọi hy vọng vào con bài Chu Chỉ Nhược: “Tên dâm đồ họ Trương kia có tà ý, ắt sẽ không hại tính mạng con. Con có thể giả vờ khứng chịu, thừa cơ đoạt lại thanh Ỷ Thiên kiếm. Còn thanh đao Đồ Long ở trong tay nghĩa phụ y là ác tặc Tạ Tốn. Trên đời này chỉ một người có thể bảo y đi lấy thanh đao đó được thôi. Người đó chính là con đó. Ta muốn con dùng sắc đẹp dụ y lấy được bảo đao bảo kiếm”. Điều đó chứng tỏ Diệt Tuyệt Sư Thái không phải không nhìn ra cảm tình giữa Chu Chỉ Nhược và Trương Vô Kị. Bà biết rằng quân cờ Chu Chỉ Nhược có những ưu thế đặc biệt nhưng cũng rất sợ mất quân cờ này. Vậy nên bà bắt Chỉ Nhược thề độc: “Nếu như sau này có lòng ái mộ tên dâm đồ Trương Vô Kỵ, kết thành vợ chồng cùng y, cha mẹ con chết nằm dưới đất xương cốt không yên, sư phụ con Diệt Tuyệt sư thái sẽ thành ma quỉ khiến cho con một đời ngày đêm không ổn, nếu như con sau này sinh con đẻ cái với y, con trai thì đời đời làm đầy tớ, con gái thì đời đời làm gái lầu xanh”.

3.Ta thấy ở những hành động của mình, Diệt Tuyệt Sư Thái đã thể hiện là người tham vọng tuyệt cao nhưng lại tàn bạo đến mức vô lý, chỉ biết đến điều mình muốn mà sẵn sàng đạp đổ những ước muốn của người khác. Có lẽ bà chưa bao giờ biết yêu nên bà đã coi tình yêu chỉ như vật trao đổi. Cả đời bà tham vọng quyền lực nên bà đã dùng quyền lực để làm thành sức ép nhằm dụ dỗ mọi người. Và bà luôn cho mình đứng ở một vị trí tối cao, vị trí phán xét mà bắt người khác phải phục tùng vô điều kiện cho những mục đích cá nhân. Bà tự tạo cho mình một vỏ bọc là con người của chính nghĩa, của nguyên tắc. Nhưng thực tế đã cho thấy bà sẵn sàng đi ngược lại với những nguyên tắc của mình, miễn là điều đó phục vụ cho mục tiêu “số một võ lâm” của phái Nga Mi do bà làm Chưởng môn. Trường đoàn thể hiện rõ ràng những tính cách trên của Diệt Tuyệt Sư Thái là khi bà thuyết phục cô học trò yêu là Kỷ Hiểu Phù giết chết Dương Tiêu, người cha và cũng là người mà Kỷ Hiểu Phù một lòng yêu mến. Ban đầu, khi Kỷ Hiểu Phù trình bày mọi việc mình gặp gỡ Dương Tiêu ra sao, bị họ Dương ép thất thân và sinh ra Bất Hối như thế nào, Diệt Tuyệt Sư Thái hoàn toàn tỏ vẻ cảm thông: “Tội nghiệp con thật đáng thương. Ôi, việc này đâu có phải lỗi ở con đâu”. Chỉ đến khi cái tên Dương Tiêu được nói ra, bà bỗng trở nên thay đổi thái độ hoàn toàn. Bởi vì cái tên Dương Tiêu có liên quan đến mối thù cá nhân với bà. Bởi Dương Tiêu chính là người đã đả bại sư huynh của bà là Cô Hồng Tử, khiến họ Cô thua nhục mà chết. Con bài chính nghĩa chỉ là khẩu hiệu còn hành động thì hoàn toàn ám muội khi bà dùng vị trí trưởng môn Nga Mi phái làm mồi nhử: “Ta sai ngươi làm một việc, đại công cáo thành rồi, ngươi trở lại núi Nga Mi, ta sẽ đem y bát và kiếm Ỷ Thiên truyền lại cho ngươi, lập ngươi làm người kế thừa chức chưởng môn bản phái”. Và khi đồ đệ không chịu dùng nhan sắc và tình thân để sát hại Dương Tiêu, Diệt Tuyệt Sư Thái lập tức tung chưởng đánh vỡ sọ học trò. Sự cạn tình cạn nghĩa, mù quáng vì giấc mơ “số một võ lâm” của bà đã được truyền xuống Chu Chỉ Nhược.

4.Nếu như bảo Chu Chỉ Nhược là người đam mê quyền lực, hẳn sẽ nhiều người phản đối. Nàng là người lụy tình. Chỉ vì ép buộc của sư phụ mà phải nhận ngôi Chưởng môn phái Nga Mi. Vì di nguyện của Sư phụ mà thi hành độc kế chiếm Ỷ Thiên kiếm và Đồ Long đao. Chỉ vì quá yêu Trương Vô Kị và quá ghen với Triệu Mẫn mà sau này đã trở nên mù quáng. Liệu có phải vậy? Thực tế cho thấy Chu Chỉ Nhược là một bản sao của Diệt Tuyệt Sư Thái. Nhưng đó là một bản sao hoàn chỉnh hơn, kín đáo hơn và tham vọng cũng lớn hơn nhiều lần.
Ta có thể coi hành động hạ độc thủ, chiếm Ỷ Thiên kiếm và Đồ Long đao của Chu Chỉ Nhược là vạn bất đắc dĩ do nàng bị ép buộc phải theo di nguyện của sư phụ. Nếu di nguyện quan trọng đến vậy thì sẽ giải thích ra sao khi nàng sẵn sàng bỏ qua lời thề độc mà một lòng cử hành hôn lễ với Trương Vô Kị? Thực tế nàng cũng giống với Diệt Tuyệt, sẵn sàng bỏ qua nguyên tắc nhằm đạt được mục đích cá nhân. Nàng biết rằng lời sư phụ bắt thề độc là sai trái. Và đương nhiên khi bỏ độc mọi người trên hoang đảo, chém nát mặt Hân Ly, chiếm Đồ Long đao và Ỷ Thiên kiếm, đổ mọi oan nghiệt lên đầu Triệu Mẫn, nàng cũng biết rằng đó là hành động sai trái. Biết vậy nhưng nàng vẫn thực hiện bởi tham vọng của nàng thực sự lớn hơn Diệt Tuyệt Sư Thái rất nhiều. Chu Chỉ Nhược vừa muốn thực hiện di nguyện của sư phụ đưa Nga Mi lên ngôi vị số một võ lâm, vừa muốn chiếm bằng được bí kíp võ công của Cửu Âm Chân Kinh để luyện thành võ công tối độc, vừa muốn giành được tình yêu tuyệt đối của Trương Vô Kị.
Nhưng tham vọng của nàng không chỉ có vậy. Khi Trương Vô Kị cùng Hàn Lâm Nhi định ám sát Hoàng đế nhà Nguyên, Chu Chỉ Nhược đã nói: “Chàng sao lại coi nhẹ mà mạo hiểm? Phải biết rằng một khi đại sự của chúng ta thành rồi thì người ngồi trên long ỷ ở lầu hoa kia phải là chàng”. Khi Hàn Lâm Nhi vỗ tay reo: “Khi đó Giáo chủ thì làm hoàng đế, còn Chu cô nương thì là hoàng hậu nương nương”. Chu Chỉ Nhược hai má đỏ bừng, thẹn thùng cúi đầu nhưng đôi mắt long lanh không dấu được vẻ sung sướng. Ẩn sâu trong nàng chính là tham vọng chính trị. Tham vọng quyền lực của Chu Chỉ Nhược mới đáng là tham vọng trùm đời, cao hơn Diệt Tuyệt Sư Thái đến mấy lần. Chẳng vậy mà khi Trương Vô Kị thổ lộ: “Anh chỉ mong sau khi đuổi được Thát tử rồi, hai đứa mình ẩn cư nơi thâm sơn, chung hưởng thanh nhàn, không lý gì đến việc đời nữa”, nàng đã lập tức thể hiện chính kiến của mình: “Chàng là giáo chủ Minh Giáo, nếu trời cho được như ý nguyện, đuổi được quân Hồ Lỗ thì thiên hạ đại sự lúc đó đều do Minh Giáo lo liệu cả, làm sao chàng có thể hưởng thanh nhàn được?... Chàng tuổi còn trẻ, bây giờ tài cán chưa đủ nhưng đâu phải là không thể học được?”. Điều đó cho thấy giữa quyền lực và tình yêu, nàng muốn có được cả hai.

5.Nhiều người cho rằng không nên trách cứ Chu Chỉ Nhược bởi ít nhất nàng là người có tình. Trên hoang đảo, khi mọi người đều trúng độc, nàng đã có thể ra tay giết tất cả mà chiếm lấy Ỷ Thiên kiếm và Đồ Long đao, âm thầm luyện Cửu Âm Chân Kinh thành thân tuyệt học để hoàn thành di nguyện của sư phụ. Nàng đã không giết Trương Vô Kỵ là do tình cảm của nàng dành cho họ Trương là rất lớn. Có thể nói rằng tình cảm của Chu Chỉ Nhược dành cho Vô Kỵ là có thật. Nhưng khi họ Trương ở vị trí thấp kém, là kẻ vô danh trên đỉnh Quang Minh, nàng sẵn sàng theo lời sư phụ mà rút kiếm đâm Vô Kị. Còn ở trên đảo hoang, nàng không thi hành độc kế có lẽ một phần là do tình cảm, phần nữa là vì vị thế của Vô Kị giờ đã là giáo chủ Minh Giáo, người có thể hoàn thành tham vọng cho nàng.
Tham vọng quá lớn nhưng vì hành động ám muội mà cuối cùng Chu Chỉ Nhược đã bị vạch mặt, toàn bộ âm mưu của nàng bị phơi bày. Tuy nhiên hình ảnh một cô gái có bề ngoài xinh tươi thuần hậu, ăn nói ôn nhu quả là có sức mạnh không ngờ. Đến ngay như Kim Dung lão gia cũng đã thể hiện sự lúng túng của mình đối với Chu cô nương. Nhà tiểu thuyết chỉ là người đẻ ra nhân vật còn nhân vật phát triển ra sao đôi khi lại vùng vẫy thoát ra khỏi bàn tay sắp đặt của tác giả. Trong số các nhân vật của Kim Dung, chưa có một nhân vật nào có số phận kỳ lạ như Chu Chỉ Nhược khi ở mỗi lần chỉnh sửa, nàng lại có một kết cục khác nhau. Lần chỉnh sửa đầu, sau khi âm mưu bại lộ, Chu Chỉ Nhược bỏ về Nga Mi, chuyên tâm tu hành, gạt bỏ mọi ân oán thị phi. Lần chỉnh sửa thứ hai, quân triều đình vây hãm quần hùng và Chu Chỉ Nhược chết khi đỡ mũi tên cho Trương Vô Kỵ. Và trong lần chỉnh sử mới nhất, chi tiết cuối cùng của bộ tiểu thuyết là chi tiết lạ lùng: Trương Vô Kỵ cầm bút lên vẽ lại lông mày cho Triệu Mẫn, bỗng thấy Chu Chỉ Nhược cũng xuất hiện, “Trương Vô Kỵ quay đầu lại nhìn Triệu Mẫn, lại quay sang nhìn Chu Chỉ Nhược, trong đầu ngổn ngang trăm mối chẳng biết nên mừng hay lo, buông cây bút rơi cạch xuống bàn”. Cái kết trong bản chỉnh sửa mới đã gây ra nhiều tranh cãi. Phải chăng với hình ảnh đó, Kim lão gia muốn cho độc giả thấy rằng chàng Trương Vô Kỵ sẽ sống cùng cả hai cô nương họ Triệu và họ Chu?

Qua hai hình tượng nhân vật nữ đam mê với quyền lực là Diệt Tuyệt Sư Thái và Chu Chỉ Nhược, Kim Dung đã tạo nên những mẫu hình nhân vật nữ có tham vọng điển hình. Họ sẵn sàng đạp bằng mọi trở ngại, dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục đích của mình. Điều cần được lưu ý là họ có lớp ngụy trang rất khéo. Diệt Tuyệt Sư Thái luôn giương cao ngọn cờ chính phái để thực hiện tham vọng. Còn Chu Chỉ Nhược dùng sắc đẹp và cử chỉ đoan trang để che đậy tham vọng. Hai con người đó là hai mẫu phụ nữa tham vọng quyền lực nhưng với cách thể hiện thực sự khác biệt. Và cuối cùng, cũng như mọi giấc mơ quyền lực khác trong thế giới kiếm hiệp của Kim Dung, họ đều dở dang với giấc mơ của mình.
HOÀNG TÙNG

Bình luận kiếm hiệp: LƯU CHÍNH PHONG: GIẤC MƠ TIẾU NGẠO GIANG HỒ



Là một nhà văn nhưng có quan hệ mật thiết với giới nghệ thuật (đã viết rất nhiều kịch bản phim truyện), trong tác phẩm của Kim Dung luôn ẩn hiện bóng dáng những nghệ sĩ trong giới giang hồ. Đó là Vô Nhai Tử, một họa sĩ và một nhà điêu khắc tài hoa. Đó là Giang Nam Tứ Hữu mỗi người một đam mê Cầm, Kỳ, Thi, Họa. Không ai không ấn tượng trước tiếng đàn của Tây Độc Âu Dương Phong và tiếng tiêu của Đông Tà Hoàng Dược Sư tạo nên những âm thanh quỷ mỵ và cũng là một cuộc tranh phong nội lực vô tiền khoáng hậu. Hình ảnh tiêu cầm hợp tấu được lặp lại trong bộ trường thiên tiểu thuyết “Tiếu Ngạo Giang Hồ”. Nhưng đó không phải là một cuộc so nội lực. Đó là giấc mơ của hai con người giữa lằn tranh giới chính tà khát khao sống đời tiếu ngạo giữa chốn giang hồ. Bài viết này xin đi sâu vào số phận Lưu Chính Phong, đồng tác giả của bản nhạc Tiếu Ngạo Giang Hồ. Bởi xét trên một góc độ nào đó, số phận của Lưu Chính Phong phản ánh tâm tình của người nghệ sĩ trước những tao loạn chốn giang hồ.

1.Trong đêm thanh vắng giữa khu rừng hoang lạnh là tiếng đàn thanh nhã và tiếng sáo nhu hòa tạo thành khúc nhạc kỳ tuyệt. Đó là kiệt tác Tiếu Ngạo Giang Hồ, khúc nhạc tâm huyết một đời của Lưu Chính Phong và Khúc Dương trưởng lão. Sau khi cùng nhau hợp tấu khúc nhạc lần cuối, hai người đã đưa bản cầm phổ cho Lệnh Hồ Xung mà cùng nhau cất tiếng cười bi phẫn trước khi cùng nhau đi vào cõi vĩnh hằng.

2.Lưu Chính Phong là đệ nhị cao thủ phái Hành Sơn, địa vị chỉ đứng sau Chưởng môn Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh. Phái Hành Sơn cùng với Tung Sơn, Hằng Sơn, Hoa Sơn, Thái Sơn thuộc về liên minh Ngũ Nhạc Kiếm Phái. Mà châm ngôn hành động của liên minh này là: “Ngũ nhạc kiếm phái như cây liền cành”. Nghe ra thì có vẻ rất hay, nhưng thực tế khiến người ta phải nghi ngờ.
Để được khăng khít “như cây liền cành”, người ta cần có hai điều kiện. Thứ nhất: cả năm phái cùng phải đồng lòng. Thứ hai: nội tại trong các môn phái cũng phải thực sự khăng khít. Nhưng chỉ nhìn riêng nội bộ phái Hành Sơn, người ta đã thấy châm ngôn: “như cây liền cành” chỉ là khẩu hiệu. Bởi chính những cao thủ bậc nhất của môn phái này đã có sự xung đột không thể dung hòa. Cụ thể, đó là mối bất đồng giữa huynh đệ Lưu Chính Phong và Mạc Đại tiên sinh.
Mối xung đột giữa huynh đệ Lưu Chính Phong và Mạc Đại đến từ đâu? Giang hồ đồn đại rằng võ công của sư đệ họ Lưu cao hơn sư huynh họ Mạc. Người ngoài nhìn vào thấy sự cách biệt giữa cơ ngơi rộng lớn của họ Lưu với hình dung cổ quái như ăn mày của họ Mạc.
Sự xung đột đến từ khác biệt sang hèn có thể lập tức được gạt ra một bên. Bản thân Lưu Chính Phong đã nói trước quần hùng: “Tiểu đệ nhờ phúc ấm của tiền nhân để lại, trong nhà tương đối dư dật hơn, còn Mạc sư ca là người bần hàn. Ðã là đạo bằng hữu thì vấn đề tiền tài là chuyện rất tầm thường, huống chi lại giữa tình sư huynh, sư đệ?”. Võ công của hai người ra sao thì trên bàn rượu ở thành Hằng Sơn đã rõ. Những hào sĩ giang hồ đang tán chuyện về "Hồi phong lạc nhạn kiếm" của Lưu Chính Phong, cho rằng một nhát kiếm của họ Lưu có thể chặt rơi đầu cùng một lúc năm con chim nhạn, bản lĩnh cao hơn cả sư huynh Mạc Đại. Đúng lúc đó, Mạc Đại xuất hiện trong bộ dạng của một lão ăn mày, vung kiếm như chớp giật chém đứt một lúc bảy cá miệng chén rượu rồi biến mất trong màn mưa gió để lại tiếng hồ cầm văng vẳng ai oán bài Tiêu tương dạ vũ. Bản thân khi đối mặt với Đại tung dương thủ Phí Bân, Mạc Đại tiên sinh đã dùng kiếm pháp tuyệt luân của mình mà hạ sát Phí Bân trong nháy mắt khiến Lưu Chính Phong cũng phải cúi đầu trước bản lĩnh cao cường của sư huynh. Có thể nói việc phân cao thấp về võ công hẳn không phải là nguyên nhân khiến hai người có thể xung đột. Vậy đâu là nguyên nhân chính?
Sau khi được sư huynh cứu thoát, Lưu Chính Phong đã nói với Khúc Dương: “Mạc Ðại sư ca tấu hồ cầm chỉ có đi mà không trở lại. Khúc điệu vô cùng não ruột sầu thảm. Hễ tiểu đệ nghe y dạo hồ cầm là lập tức muốn tránh xa”. Có lẽ đây là nguyên nhân chính khiến hai vị sư huynh sư đệ đồng môn không thể dung hòa được với nhau tới mức “Mạc sư ca tuyệt không bước chân đến nhà tại hạ. Sư huynh, sư đệ tại hạ có khi đến hàng mấy năm không nói chuyện, không gặp mặt nhau”.
Người ta sẽ thấy lạ lùng. Hai huynh đệ đều là những kẻ cao thủ tuyệt thế, tính cách khảng khái, đều là những người có phong độ anh hùng, lại là huynh đệ cùng môn phái, lại có chung cùng một niềm đam mê âm nhạc. Với ngần đó điểm chung, vậy mà sao họ lại xung đột sâu sắc đến vậy? Kim Dung đã ẩn dụ mối bất hòa giữa hai vị huynh đệ nghệ sĩ tài hoa phái Hành Sơn. Mối bất hòa đó chính là biểu trưng của về quan điểm học thuật. Sự dị biệt về quan điểm có thể gây nên mối bất hòa. Cuộc bút chiến: “Văn học vị nhân sinh” hay “Văn học vị nghệ thuật” đã cho ra đời những nhà phê bình xuất chúng nhưng những con người đó không thể dung hòa nhau về mặt học thuật. Newton và Leibniz đều là những thiên tài toán học, đều cùng chung ý tưởng về phép tính tích phân nhưng đều không chấp nhận công trình của nhau. Vương An Thạch và Tô Đông Pha đều là hai nhà thơ lỗi lạc nhưng không dung hợp được do tư tưởng chính trị trái ngược nhau. Sự lệch pha về học thuật của hai huynh đệ nghệ sĩ phái Hành Sơn chính là minh họa cho sự khác biệt về quan điểm học thuật…

3.Con người để tìm ra tri kỷ là chuyện khó. Người nghệ sĩ có được tri kỷ lại càng khó hơn. Mạc Đại tiên sinh là một nghệ sĩ cô đơn lạc lõng cả đời không tri kỷ. Còn Lưu Chính Phong đã tìm ra được tri kỷ cho mình. Số phận nghiệt ngã đã xắp xếp để tri kỷ của họ Lưu lại là Khúc Dương, một Trưởng lão của Nhật Nguyệt Thần Giáo vốn bị Ngũ Nhạc Kiếm Phái coi là Ma Giáo.
Trong thế giới giang hồ đó, người ta vẫn nặng nề đầu óc phân biệt chính tà với cái quan điểm đơn giản, chính phái: tốt – tà phái: xấu. Người ta không hiểu rằng con người thiện ác chẳng thể nào được phản ánh qua cái nhãn mác CHÍNH – TÀ. Người nghệ sĩ với đầu óc phóng khoáng như Lưu Chính Phong đã nhìn ra sự vô lý đó. Nhưng ông trở thành một kẻ cô đơn trong chính hàng ngũ của mình. Và quan điểm của ông chỉ có thể thổ lộ và chia sẻ được với một người bên kia giới tuyến: “Khúc Dương đại ca là người bạn tốt nhất, người tri kỷ duy nhất của tại hạ. Khúc đại ca cùng tại hạ mới gặp mặt lần đầu đã như tình cố cựu, ngỏ hết tâm sự cùng nhau giao kết. Thế mà y cùng tại hạ hội diện đến mười mấy lần rồi có khi nằm nói chuyện suốt đêm. Ngẫu nhiên đề cập đến chính kiến bất đồng về môn hộ, y vuốt bụng thở dài, nhận ra cuộc tranh đấu hai bên đều là vô vị”. Người ta nhìn nhận nhau qua nhãn hiệu, còn Lưu Chính Phong nhìn nhận con người qua sự giao cảm của âm nhạc: “Khúc đại ca tuy người trong Ma giáo, nhưng tại hạ nghe tiếng đàn biết y tính tình cao khiết đáng là người bạn với Thanh Phong Minh Nguyệt. Lưu mỗ không những bội phục mà còn ngưỡng mộ”.
Đó là quan điểm của người nghệ sĩ Lưu Chính Phong. Và đương nhiên những kẻ nặng nề đầu óc chính tà sẽ không thể nào thông cảm được. Ngay thời điểm ông mời mọi người đến tham gia lễ “rửa tay chậu vàng”, khách mời đến dự gồm nhiều phe phái khác nhau, điều này đã khiến những cao thủ bậc nhất của Ngũ nhạc kiếm phái như Định Dật sư thái và Thiên Môn đạo nhân băn khoăn: “Lưu Chính Phong là tay cao thủ phái Hành Sơn mà sao không biết tự trọng, lại đi kết giao cả với những người chẳng hiểu lai lịch trên chốn giang hồ. Y làm như vậy há chẳng tổn hại đến thanh danh của Ngũ nhạc kiếm phái mình?” Chỉ vì quảng giao mà đã bị đặt vào vòng nghi vấn “tư cách đạo đức” như vậy thì đương nhiên người ta không thể chấp nhận mối “quan hệ sai trái” giữa Lưu Chính Phong với Khúc Dương.
Con người khi đánh giá nhau qua những nhãn hiệu thường sẽ sai lầm. Ai “chính phái” như Tả Lãnh Thiền, như Nhạc Bất Quần? Nhưng hành động của hai vị Chưởng môn này lại “tà phái” hơn cả những kẻ tà phái nhất. Ai “tà phái” hơn Nhậm Ngã Hành, hơn Hướng Vấn Thiên? Nhưng phong độ ung dung của Thiên Vương Lão Tử trước vòng vây của quần hùng hắc bạch và hào khí ngất trời của Nhậm Ngã Hành giữa Thiếu Lâm tự không khỏi khiến người ta phải ngưỡng mộ. Làm sao có thể đánh giá được con người qua nhãn hiệu chính tà? Lưu Chính Phong là một nghệ sĩ chân chính và ông vượt lên khỏi cái nhãn quan chính tà tầm thường: “Về ngôn ngữ, văn tự còn có thể trá ngụy, nhưng tiếng đàn tiếng tiêu là tiếng nói tự cõi lòng, chẳng ai có thể giả mạo được. Tiểu đệ và Khúc đại ca kết bạn với nhau xướng họa đàn sáo, tâm giao thông. Tiểu đệ xin lấy tính mạng toàn gia ra mà bảo đảm: Khúc đại ca là người trong Ma giáo nhưng tuyệt không có chút tâm địa tà ác của môn phái y”.

4.Thực tế Lưu Chính Phong có ai là tri kỷ? Tâm hồn phóng khoáng, nét nhạc tài hoa nhưng ông không thể chia sẻ bí mật của mình đối với ai. Dã tâm của Tung Sơn phái đã rõ. Những cao thủ khác của Ngũ nhạc kiếm phái đều nặng nề đầu óc chính – tà. Người đáng nhẽ phải gần gũi nhất là sư huynh Mạc Đại thì lại khắc biệt về quan điểm sáng tác dẫn đến mâu thuẫn. Ông đã một lòng vì tri kỷ duy nhất của mình là Khúc Dương trưởng lão, một người phía bên kia chiến tuyến.
Trên thực tế Lưu Chính Phong đã lựa chọn đúng. Tung Sơn kiếm phái dùng sinh mệnh gia đình ép buộc ông phải giết Khúc Dương, đương nhiên là không hiểu tâm sự của ông. Lưu Chính Phong cũng đã dùng hết gan ruột của mình mong có được sự ủng hộ của đồng đạo võ lâm nhưng từ Nhạc Bất Quần, Thiên Môn đạo nhân đến Định Dật sư thái đều không bước qua được thiên kiến chính tà. Trước cảnh toàn gia bị hại, người sư huynh của ông là Mạc Đại tiên sinh cũng mất tăm mất tích. Giữa những kẻ trước nay vốn coi nhau “như cây liền cành”, Lưu Chính Phong đã bỗng chốc thành người cô đơn tuyệt đỉnh, bị cô lập trong chính hàng ngũ bằng hữu của mình.
Những suy nghĩ của phe chính phái thực tế đều thể hiện sự cực đoan xuẩn muội. Nhạc Bất Quần thuyết phục Lưu Chính Phong đi giết Khúc Dương với lý lẽ: “Lão họ Khúc trong Ma giáo hiển nhiên bề ngoài thơn thớt nhưng bên trong nham hiểm. Cổ nhân vì đại nghĩa giết cả người thân. Người thân thích còn có lúc phải giết đi thì kể chi đến một tên đại ma đầu?” Đương nhiên người nặng tình như Lưu Chính Phong không thể nuốt trôi được cái quan điểm chính tà cực đoan đó. Chính vì thế mà ông trở nên lạc lõng. Và khi đó, những cao thủ bậc nhất đều khoanh tay trước cảnh toàn gia họ Lưu bị thảm sát.
Việc toàn bộ bằng hữu bỗng dưng trở mặt không khỏi khiến Lưu Chính Phong đau khổ. Nhưng đau đớn nhất phải kể đến màn tra tấn tư tưởng của phái Tung Sơn. Phái Tung Sơn đã dùng cả sức ép tinh thần và bạo lực để ép buộc Lưu Cần nói xấu cha. Có lẽ cảnh toàn gia bị chết thảm cũng không khiến Lưu Chính Phong đau đớn bằng việc chính đứa con trai được mình yêu quý nhất trước sức ép của cường quyền đã lên tiếng phỉ báng và đòi giết cha đẻ mình. Ngòi bút của Kim Dung ở trường đoạn này vừa thể hiện sự tàn bạo của cường quyền, cũng vừa thể hiện một sự thật của cuộc sống. Giấc mơ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng có lẽ vẫn chỉ là giấc mơ ở những người hùng tuyệt đối. Còn con người nói chung khó tránh khỏi nỗi sợ mà phải cong mình trước cường quyền bạo lực, đặc biệt khi rơi tính mạng bị đặt vào lằn ranh sống chết. Lưu Chính Phong có thể trách con trai mình hèn nhát. Nhưng thực sự kẻ đáng trách chính là bè lũ Tung Sơn, kẻ đã dùng hết đòn roi tâm lý đến đe dọa mạng sống khiến Lưu Cần bộ lộ bản tính tham sống của mình đồng thời đánh một nhát búa tạ vào trái tim của Lưu Chính Phong.

Người ta sẽ hỏi tại sao con người có thể đối xử với nhau tệ mạt đến vậy? Lưu Chính Phong thực sự muốn ra khỏi giang hồ, tìm thanh thản trong lòng: “Lưu mỗ chẳng biết đứng về bên nào, vì thế nên phải nghĩ ra hạ sách rửa tay gác kiếm. Lưu mỗ chỉ mong lui thoát khỏi những cuộc ác đấu gió tanh mưa máu, từ nay cáo lão hưởng thú lâm tuyền, thổi sáo, dạy con, làm một người lương dân yên phận thủ thường”. Nhưng ước muốn nhỏ nhoi đó của người nghệ sĩ đã không thể thành hiện thực do thiên kiến chính tà của con người. Tiếu Ngạo Giang Hồ đã bị chính quyền Đài Loan cấm phát hành. Tác phẩm của Kim Dung khi đó đã bị nghiêm cấm ở Trung Quốc. Phải chăng tâm sự của Lưu Chính Phong cũng chính là một phần tâm sự của Kim Dung lão gia?
HOÀNG TÙNG

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012

Bình luận kiếm hiệp: TIỂU SỬ TRƯƠNG TAM PHONG


Trương Tam Phong - Võ Đang lão tổ

Nhắc đến Trương Tam Phong (Zhang San Feng) hậu thế thường nghĩ đến người đã sáng lập ra Võ Đang phái (Wu Tang), một võ phái được coi như Bắc Đẩu của võ học Trung Hoa. Ông cũng là người sáng tạo ra Thái Cực Quyền và Thái Cực Kiếm Pháp còn được lưu truyền cho đến tận ngày nay.

Trương Tam Phong có tục danh là Trương Quân Bảo (Zhang Jun Bao). Tương truyền ông sinh năm 1247 tại Long Hổ Sơn, tỉnh Giang Tây, Trung Hoa vào thời Nguyên mạt. Theo "Phương Kỷ Truyện" (Minh Sử) thì ông là người có dung mạo đẹp đẽ, mắt sáng, tai to, râu hùm, dáng đi như hạc. Bốn mùa ông chỉ mặc một bộ quần áo, đội nón mê, ngày ăn đấu gạo, tay cầm thanh bảo kiếm "Chân võ", đi trăm dặm trường. Ông đã từng thi đỗ Mậu Tài và làm quan ở Trung Sơn và Bác Lăng, tuy nhiên sau đó ông từ quan rồi đi chu du thiên hạ. Ông cũng đã từng nghiên cứu võ học tại Tung Sơn Thiếu Lâm Tự trên dưới 10 năm.

Sau này, khi đi ngang qua ngọn Võ Đang Sơn thuộc Tiêu Anh Phủ giữa biên giới hai tỉnh Hà Nam và Giang Tây, ông thấy phong cảnh vô cùng thanh nhã nên đã lập am cỏ và tu luyện ở đây. Chuyện cũng có kể rằng năm Hồng Vũ thứ 14 (1382) Minh Thái Tổ đã từng sai sứ giả triều đình đến gặp ông những mong ông giúp nhà vua dẹp một số bộ lạc thiện chiến đang chống lại triều đình nhưng không gặp.

Với tâm ý muốn tạo ra một trường phái võ đối lập với đường lối luyện võ mang tính Dương Cương của Thiếu Lâm Phái, Trương Tam Phong đã sáng tạo ra Thái Cực Quyền (T’ai chi ch’uan) với tính chất Âm Nhu rõ rệt. Ông cũng là người phát triển các cách điểm huyệt dựa vào kiến thức vệ hệ kinh lạc và huyệt vị của hai danh y thời cổ đại là Biển Thước và Hoa Đà. Ông đã từng cho xây dựng những pho tượng như người thật, cho thủy ngân vào huyệt vị để học trò tập điểm huyệt (mỗi lần điểm trúng huyệt là thủy ngân chảy ra). Võ Đang phái sau đó đã thành một phái võ danh trấn võ lâm, sánh ngang với Thiếu Lâm như lời xưng tụng "Thái Sơn (Thiếu Lâm Tự), Bắc Đẩu (Võ Đang) võ lâm".

"Thái Cực Quyền kinh" và "Thái Cực Kiếm Pháp" đã trở thành bảo vật của Võ Đang phái. Cũng bởi tính Âm Nhu mềm mại và dễ tập nên Thái Cực Quyền và Thái Cực Kiếm Pháp giờ đã được phổ biến rộng rãi và có hàng triệu người đang ngày ngày luyện môn võ này.

Khi nhìn vào Thái Cực Quyền, ta thấy nó vừa mang tính võ đạo, vừa mang tính vũ đạo. Theo từ điển Oxford (Anh) thì T’ai chi ch’uan (Thái Cực Quyền) là một loại martial art (võ thuật). Còn theo từ điển Larousse (Pháp) thì đây lại là một gymnastique (loại hình thể dục)

Trên thực tế, Thái Cực Quyền cũng có một lịch sử phát triển khá phức tạp. Tương truyền ông sáng tạo ra Thái Cực Quyền khi nhìn thấy một con rắn đánh nhau với chim đại bàng. Con rắn với những động tác uyển chuyển đầy linh hoạt sau đó đã cắn chết chim đại bàng. Chính vậy nên Thái Cực Quyền là tập hợp của những đòn thế gồm hàng loạt những động tác múa võ uyển chuyển như múa. Mới đầu nó còn rất thô sơ và mỗi khi được truyền đến từng địa phương, nó lại được bản địa hóa với Thái Cực Quyền của họ Trần, họ Vũ, họ Tôn… Cho đến hiện nay, Thái Cực Quyền mà mọi người luyện tập thực chất là Thái Cực Quyền đã giản hóa với 48 thức, giản hóa từ Dương thức Thái Cực Quyền (Thái Cực Quyền của nhà họ Dương nguyên bản là 88 thức).

Cái tên Thái Cực Quyền được bao gồm bởi chữ Thái (lớn lao) và Cực (trạng thái ban sơ). Thái Cực là nhân tố đầu tiên Kinh Dịch đề cập đến (Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái…). Thái Cực đồ sau này được Chu Đôn Di vẽ ra đã cho thấy một quan niệm "trong âm có dương, trong dương có âm" của Thái Cực. Do đó mỗi động tác của Thái Cực Quyền đều tiềm ẩn tính triết học "trong cương có nhu, trong nhu có cương", điều hòa âm dương.

Cũng ảnh hưởng từ Thái Cực đồ (hình tròn) mà những động tác của Thái Cực Quyền đều đi theo đường tròn và trong đó có cả động-tĩnh, hư-thực, cương-nhu… Bởi mang tính chất của đạo Lão nên Thái Cực Quyền mang một tư tưởng Vô vi rất cao. Học Thái Cực Quyền đến mức cao thâm, người học càng "quên" và tập theo các chiêu thức, điều hòa nhịp thở khí huyết lưu thông một cách vô thức.

Thái Cực Quyền có tác dụng rõ rệt đối với sức khỏe. Người tập Thái Cực Quyền sẽ dần nâng cao được sức đề kháng, lưu thông huyết mạch, kích thích hệ hô hấp, giảm stress. Chính vì vậy nên ngày nay Thái Cực Quyền đã vượt ra khỏi biên giới của Trung Hoa và trở thành một môn võ được nhiều người tập luyện và yêu thích.

HOÀNG TÙNG

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

Bình luận kiếm hiệp: LƯỢC SỬ TIỂU THUYẾT KIẾM HIỆP


Tiểu thuyết kiếm hiệp đã từng bị quan sát với một con mắt khắt khe từ giới phê bình kinh viện. Tuy nhiên, việc Kim Dung được đưa vào danh sách 10 đại tác gia của thế kỷ 20, tác phẩm của ông được đưa vào sách giáo khoa Trung văn đã khiến người ta có cái nhìn bình đẳng hơn về dòng văn học này. Sự chú ý đối với dòng văn học kiếm hiệp được hâm nóng khi bộ tiểu thuyết Tru Tiên phá vỡ mọi kỷ lục phát hành tại Trung Quốc với mức tiền bản quyền kỷ lục cho tác giả Tiêu Đỉnh. Lúc này nhiều nhà phê bình mới thấy sức ảnh hưởng to lớn của dòng văn học kiếm hiệp đến các quốc gia Châu Á khiến người ta rất cần phải lưu ý đến dòng văn học này.
Ngay tại Việt Nam, chúng ta dễ dàng nhận thấy hàng loạt diễn đàn bàn luận về truyện kiếm hiệp như www.vietkiem.com, www.maihoatrang.com , www.tangthuvien.com, www.luongsonbac.com, www.nhanmonquan.com, Kiếp hiệp cốc của Diễn đàn Trái tim Việt Nam hay www.kimdung.chungta.com với hàng triệu thành viên từ Bắc chí Nam.


1.Thời kỳ tiền kiếm hiệp

Truyện kiếm hiệp có từ bao giờ? Đây là câu hỏi không dễ trả lời. Có người cho rằng tiểu thuyết kiếm hiệp bắt đầu từ những trang viết của Thái Sử Công Tư Mã Thiên (145 TCN – 86 TCN) trong thiên Du Hiệp truyện. Trong đó, Thái Sử Công đã ghi lại câu truyện truyền kỳ của những kẻ du hiệp, coi thường pháp luật, dùng cái dũng khí và bản lĩnh nam nhi mà nổi danh thiên hạ. Những bài thơ của Thi tiên Lý Bạch nói về kiếm hay Thi thánh Đỗ Phủ mô tả kiếm thuật của Công Tôn đại nương với câu: “Nhất vũ kiếm khí động tứ phương” kích thích trí tưởng tượng của những nhà viết tiểu thuyết kiếm hiệp cao độ. Chuyện kết hợp giữa kiếm pháp và thư pháp tưởng như chỉ xuất hiện ở những tác phẩm kiếm hiệp hiện đại nhưng thực ra Thư thánh Trương Húc đã từng viết: “Khi xem Công Tôn đại nương múa kiếm, tôi mới lĩnh hội được thần và ý cho thư pháp”. Sau đó, những câu truyện trong Thủy Hử truyện của Thi Nại Am cũng mang đầy sắc mầu kiếm hiệp như truyện Võ Tòng đả hổ, Võ Tòng sát tẩu, Lý Quỳ giết hổ v.v… Hay như truyện Thất Hiệp Ngũ Nghĩa (khuyết danh) với truyền kỳ về Bao Thanh Thiên và những đồng sự của mình với kiếm pháp vô song của Nam hiệp Triển Chiêu cũng là những nét chấm phá đầu tiên định hình lên dòng tiểu thuyết kiếm hiệp sau này.

2.Kiếm hiệp đầu thế kỷ 20

Tiểu thuyết kiếm hiệp dần được hình thành và phát triển với dấu mốc quan trọng của Hoàn Châu Lâu Chủ (1902-1961).
Với tác phẩm Thục Sơn Kiếm Hiệp, Hoàn Châu Lâu Chủ đã tạo một bước ngoặt lớn lao cho dòng tiểu thuyết kiếm hiệp. Thứ nhất, Hoàn Châu Lâu Chủ là người đầu tiên viết truyện kiếm hiệp theo kiểu phơi-ơ-tông đăng tải hàng ngày trên báo chí. Thứ hai, tác phẩm Thục Sơn Kiếm Hiệp của Hoàn Châu Lâu Chủ đã tạo ra một thế giới kiếm hiệp kỳ ảo khiến người đọc vô cùng say mê. Năm 1932, tác phẩm Thục Sơn Kiếm Hiệp của Hoàn Châu Lâu Chủ đã tung hoành trên tờ Thiên Phong báo (Thiên Tân). Với sức tưởng tượng phi phàm, kết câu truyện ly kỳ, Hoàn Châu Lâu Chủ đã tạo nên một tác phẩm đậm màu sắc kiếm hiệp với nhân vật truyền kỳ của phái Nga My. Điểm đặc biệt khiến Hoàn Châu Lâu Chủ có ảnh hưởng lớn đến những tác gia kiếm hiệp sau này là việc ông đã rất thành công trong việc xây dựng kết hợp mô tả nhân vật với mô tả cảnh trí thiên nhiên, giảng giải văn hóa với nhiều đoạn tuyệt bút văn phong tuyệt mỹ kích thích cao độ trí tưởng tượng của người đọc. Thục Sơn Kiếm Hiệp là nền tảng để một loạt những tác phẩm đương thời ra đời như Giang Hồ Kỳ Hiệp của Bình Giang Nhất Tiếu Sinh (1890 - 1957), “Kỳ Hiệp Tinh Trung truyện” của Triệu Hoán Đình (1877 - 1951), “Thập Nhị Kim Tiền Tiêu” của Bạch Vũ (1901 - 1966) v.v.. Tuy nhiên, điểm yếu của Hoàn Châu Lâu Chủ cũng như điểm yếu của khá nhiều tác gia kiếm hiệp sau này là câu chuyện ban đầu quá rộng lớn, thành ra nhân vật tản mát, tác giả viết bút lực càng ngày càng cạn kiệt dần khiến độc giả ban đầu còn thích thú, càng về sau càng cảm thấy chán nản.

3.Kiếm hiệp hiện đại – Tiền Kim Dung

Kim Dung đương nhiên là một cột mốc lớn của loại hình tiểu thuyết kiếm hiệp. Tuy nhiên trước Kim Dung cũng có nhiều cái tên đáng chú ý. Một trong số đó là Vương Độ Lư (1909 - 1977). Ông là tác giả của một loạt bộ tiểu thuyết trứ danh như Bảo Kiếm Kim Thoa và đặc biệt nhất là Ngọa Hổ Tàng Long, bộ thiểu thuyết sau này đã được Lý An dựng thành bộ phim cùng tên, chinh phục khán giả từ Đông sang Tây và đoạt vô số giải Oscar danh giá. Điểm vượt trội của Vương Độ Lư là tình tiết câu truyện chặt chẽ, đặc biệt ông miêu tả tình cảm của nhân vật cực kỳ cảm động. Ví như mối tình giữa Lý Mộ Bạch với Dư Tú Liên. Dư Tú Liên yêu tha thiết Lý Mộ Bạch và họ Lý cũng hiểu mối thâm tình nàng dành cho mình nhưng họ Lý luôn cảm thấy day dứt vì mình đã không cứu được Tiểu Mạnh vốn là hôn phu của Dư Tú Liên. Ngoài trắc trở về tâm lý, truyện còn đề cập đến mối tình giữa nàng thiên kim tiểu thư Ngọc Kiều Long và tướng cướp La Tiểu Hổ thể hiện rõ sự giằng xé giữa địa vị và tình yêu. Mang những yếu tố tâm lý vào truyện và giải quyết tình huống truyện một cách thấu đáo, có thể nói Vương Độ Lư đã vượt lên trên khỏi cái bóng của Hoàn Châu Lâu Chủ. Người ta cũng nhắc đến Tư Mã Linh với “Kiếm Thần Truyện” nổi danh khắp Đài Loan khi ông mới chỉ bước vào tuổi đôi mươi. Nhưng sau đó trước tác của Tư Mã Linh ngày một kém cỏi nên sự nghiệp không có gì quá đặc biệt ngoài tác phẩm kể trên. Nói đến thời kỳ tiền Kim Dung, người ta không thể không nhắc đến cái tên Lương Vũ Sinh (1926 - 2009) với danh hiệu: “Tân kiếm hiệp tị tổ" (thủy tổ của tân kiếm hiệp). Ông một tác gia lớn của dòng văn học kiếm hiệp với khối lượng tác phẩm cực kỳ đồ sộ. Nhà nghiên cứu Trần Mặc trong tác phẩm Kiếm hiệp Ngũ đại gia đã bình luận: “Ông (Lương Vũ Sinh) chẳng những viết tiểu thuyết kiếm hiệp trước Kim Dung mà kết thúc cũng muộn hơn. Thời gian sáng tác của tiểu thuyết của ông gấp đôi Kim Dung, số lượng của ông thì hơn gấp đôi, gồm 35 bộ trường thiên tiểu thuyết. So ra Lương Vũ Sinh thuần tuý, chuyên nghiệp hơn (Kim Dung) nhiều”. Trong số những tác phẩm của ông, không thể không nói đến tác phẩm được liệt vào hàng kinh điển như “Bạch phát ma nữ truyện”, Thất kiếm hạ Thiên Sơn v.v… Sở dĩ nói Lương Vũ Sinh là một trong những cột mốc lớn trước Kim Dung là vì ông đã mang được cái thẩm mỹ thần tình của mình vào những trang viết, kết hợp mạnh mẽ lịch sử và trí tưởng tượng cực kỳ phong phú cùng với kiến văn quảng bác của mình để tạo nên những viên ngọc quý trong kho tàng tiểu thuyết kiếm hiệp. Đánh giá về Lương Vũ Sinh, Trần Mặc đã viết: “Tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh đã kết hợp lịch sử với truyền kỳ , đem 2 thứ vốn thuộc 2 lĩnh vực khác nhau (giang hồ và giang sơn) kết hợp lại sáng tạo nên một thế giới kiếm hiệp mới mẻ. Người xưa cho rằng Tam Quốc diễn nghĩa là đệ nhất tài tử thư, tiểu thuyết của Lương Vũ Sinh cũng có thể coi là tài tử thư, còn như thứ mấy là chuyện khác. Có thể nói công lao mở đầu của ông ko thể coi thường”. Những tác phẩm của họ Lương bao giờ cũng thấm đẫm tinh thần hiệp nghĩa, nêu cao chính nghĩa như quan niệm của ông: “Thế nào gọi là hiệp? Quan điểm của tôi là : hiệp là hành vi chính nghĩa! Thế nào gọi là hành vi chính nghĩa? Tôi cho rằng: đem lại lợi ích cho nhiều người là hành vi chính nghĩa”. Tự đánh giá về những đóng góp của mình, Lương Vũ Sinh đã nói: “Khai phong khí giả Lương Vũ Sinh; phát dương quang đại giả Kim Dung” (người khai sinh mở mang là Lương Vũ Sinh; kẻ phát huy rực rỡ là Kim Dung, đây có thể được coi là một câu tổng kết chuẩn xác về tầm khai phá của ông trong lĩnh vực tiểu thuyết kiếm hiệp.

4.Kim Dung

Sở dĩ nói Kim Dung là một cột mốc lớn bậc nhất trong lịch sử tiểu thuyết kiếm hiệp bởi ông là người có công nâng tiểu thuyết kiếm hiệp từ bị thế từng bị coi là dòng văn học thông tục giờ đàng hoàng trở thành dòng văn học chính danh. Những tác phẩm của ông đã được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa, ngang hàng với những tác phẩm văn học cổ điển của những tác gia lớn nhất Trung Quốc như Ba Kim, Lỗ Tấn, Lão Xá… Nhiều người đọc say mê nghiên cứu tác phẩm của ông, từ đó thêm hiểu biết về lịch sử Trung Quốc, về nghệ thuật ẩm thực, nghệ thuật thư pháp v.v… Thậm chí còn có cả một ngành chuyên nghiên cứu về những tác phẩm của ông được gọi là Kim học. Điều đáng nói là số lượng tác phẩm của Kim Dung không nhiều, 14 tác phẩm (kém xa so với Lương Vũ Sinh, Cổ Long, Ôn Thụy An) nhưng trong số những tác phẩm đó, tỷ lệ tuyệt phẩm là rất lớn. Có thể kể ra đây Xạ điêu Tam bộ khúc gồm bộ ba tác phẩm Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký hay Thiên Long Bát Bộ, Tiếu Ngạo Giang Hồ, Lộc Đỉnh Ký. Điểm khiến Kim Dung vượt trội so với những bậc tiền bối và cả những hậu nhân sau này là ông có sở học mạnh mẽ, kiến thức uyên thâm, lại thêm văn tài xuất chúng và trí tưởng tượng cực kỳ phong phú. Các tác phẩm của ông có nền tảng câu chuyện rất vững vàng, tình tiết câu truyện rành mạch, biết cách dồn nén để bung ra những nút thắt câu truyện vào phút tối hậu khiến người đọc tuyệt thú. Một điểm nữa cũng không thể không kể đến là Kim Dung tự biết lượng sức mình. Sau khi viết xong bộ truyện đồ sộ Lộc Đỉnh Ký, ông đã biết dừng lại và biên tập, chỉnh sửa những tác phẩm của mình. Sở dĩ nói đây là việc làm cực kỳ quan trọng bởi vì quá trình viết truyện kiếm hiệp của phần lớn tác gia kiếm hiệp thường bị đặt vào tình huống truyện dài kỳ với sự thúc ép của các tòa soạn báo và độc giả. Thành ra các tác giả phải liên tục ra đời những chương hồi mới, tình tiết mới và không khỏi bỏ quên nhiều nhân vật, sai sót trong nhiều tình huống khiến người đọc thắc mắc không thôi. Bản thân Kim Dung cũng mắc những lỗi tương tự nhưng ông tự biết ngồi lại và chỉnh sửa tình tiết văn từ khiến những tác phẩm của mình được nâng lên một bậc và sau này văn chương càng mỹ lệ, tình tiết càng lay động, bố cục càng chặt chẽ khiến ông trở thành một cây đại thụ, một Minh Chủ võ lâm của dòng văn học kiếm hiệp.

5.Hậu Kim Dung

Sau khi Kim Dung phong bút, dường như tiểu thuyết kiếm hiệp chịu nhiều tổn thất. Điểm lớn nhất là những tinh hoa của văn học kiếm hiệp cổ điển, dường như Kim Dung đã thâu tóm hết, hoàn thiện hóa và đưa vào những tác phẩm của mình. Những tác phẩm và uy danh của ông trở nên quá lớn khiến nhiều nhà văn không thể vượt qua cái bóng của bậc tiền bối. Tiểu thuyết kiếm hiệp đi vào lối mòn, cần tìm ra những lối đi mới. May mà có sự xuất hiện của Cổ Long (1937–1985).
Nhắc đến Cổ Long, người ta thường so sánh với Kim Dung. Kim Cổ đều là hai ngọn cô phong cao nhất của dòng văn học kiếm hiệp. Có điều so sánh giữa Cổ Long và Kim Dung là điều rất khó bởi Cổ Long đi theo một hướng đi rất khác. Bản thân Cổ Long đã nhận định về Kim Dung: “Ảnh hưởng của ông trên cả một thời đại của thiểu thuyết kiếm hiệp trong vòng tám mươi năm nay không ai có thể bì kịp. Bất kỳ tác phẩm của ai không ít thì nhiều cũng đều chịu ảnh hưởng của ông”. Tuy nhiên vì nhận thức được một cách sâu sắc rằng mình không có sở học nền tảng vững mạnh như Kim Dung, Cổ Long đặt yêu cầu cho mình phải viết khác biệt so với bậc tiền bối: “Phong cách tiểu thuyết của Kim Dung đã sáng tạo ra có thể hấp dẫn nhiều độc giả, tuy nhiên tiểu thuyết kiếm hiệp cũng đã đến giai đoạn cần phải canh tân, cần biết hóa”.
Chính quan điểm này đã tạo ra một hướng đi mới mẻ cho văn học kiếm hiệp với dấu mốc của Cổ Long. Phong cách câu chữ của Cổ Long ngắn gọn, ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn học châu Âu, khác hẳn với kiểu văn bạch thoại được sử dụng nhiều trong những tác phẩm kiếm hiệp trước đó. Ngoài ra, những nhân vật kiếm hiệp của Cổ Long không gắn với những thời kỳ lịch sử nhất định nào, từ đó trí tưởng tượng được phát huy tối đa tạo ra những nhân vật truyền kỳ nổi tiếng khắp châu Á như Đạo Soái Sở Lưu Hương, Tiểu Lý Phi Đao, Lục Tiểu Phụng v.v… nhà nghiên cứu kiếm hiệp Trần Mặc đã có những nhận định sắc sảo: “Cần phải khẳng định rằng Cổ Long là một nhà cách tân tiểu thuyết kiếm hiệp. Ông là nhà nhà tiểu thuyết kiếm hiệp ưu tú nhất sau Kim Dung và Lương Vũ Sinh. Ông đã mở rộng tầm nhìn và không gian của tiểu thuyết kiếm hiệp, mở ra kỉ nguyên mới, con đường mới của tiểu thuyết kiếm hiệp. Văn phong của ông rất độc đáo, ảnh hưởng rất sâu rộng. Thành tựu sáng tác tiểu thuyết kiếm hiệp của Cổ Long đương nhiên không chỉ ở phương diện văn phong, văn thể mà là ở chỗ ông đã tiến hành một sự cách tân và cải tạo triệt để đối với tiểu thuyết kiếm hiệp truyền thống. Cống hiến của Cổ Long là đã mở ra con đường sáng tác kết hợp giữa Đông và Tây, tràn đầy tinh thần nhân văn hiện đại, biểu hiện ở sự tôn trọng con người, coi trọng nhân tính”.
Cùng thời kỳ này cũng có những danh gia kiếm hiệp khác như Lương Vũ Sinh, Ngọa Long Sinh, Ôn Thụy An được nhà nghiên cứu Trần Mặc xếp vào hàng ngũ Kiếm hiệp Ngũ Đại Gia cùng với Kim Dung và Cổ Long. Tuy nhiên xét về tầm ảnh hưởng, Kim Cổ vẫn có sức ảnh hút mẽ hơn cả.

6.Gạch nối Huỳnh Dị

Sau khi Kim Dung phong bút, Cổ Long qua đời, những cái tên như Ôn Thụy An được kỳ vọng sẽ mở ra những lối đi mới của tiểu thuyết kiếm hiệp nhưng rõ ràng kỳ vọng này là quá lớn, vượt khỏi tầm vóc của Ôn Thụy An mặc dù những trước tác của họ Ôn không phải không có chỗ độc đáo.
Cho đến khi Huỳnh Dị xuất hiện trên văn đàn, người đọc lại thêm một lần nữa ngây ngất trước những trước tác lớn có trí tưởng tượng kỳ vĩ và tình tiết lôi cuốn người đọc đến nghẹt thở. Khác biệt với những người đi trước, Huỳnh Dị kết hợp những câu truyện mang đầy tính khoa học viễn tưởng vào với những trang viết truyện kiếm hiệp của mình. "Tầm Tần Ký" và "Đại Đường Song Long truyện" và nhiều sáng tác sau này của ông đều mang dáng dấp của sự kết hợp nhuần nhuyễn đó. Cuộc hành trình của Hạng Thiếu Long qua cỗ máy thời gian ngược trở về thời kỳ Thất quốc tranh hùng (Tầm Tần Ký) qua đó họ Hạng tham gia vào hàng loạt những biến cố lịch sử quan trọng khiến người đọc vô cùng thích thú. Những tác phẩm đầy chất huyền ảo nhưng vẫn mang đậm chất kiếm hiệp đã tạo cho Huỳnh Dị danh hiệu là “cha đẻ của thể loại Huyền ảo kiếm hiệp”. Đồng thời, ông cũng xứng đáng là gạch nối tiêu biểu nhất của thể loại kiếm hiệp kết nối từ Kim Dung – Cổ Long đến những người viết kiếm hiệp trẻ sau này.

7.Tân Thần Châu Ngũ hiệp

Sau gạch nối Huỳnh Dị, văn đàn kiếm hiệp chứng kiến những thay đổi lớn lao. Đó là sự nổi lên của những tác giả trẻ tuổi nhưng bút lực tràn trề, sức tưởng tượng rộng lớn minh chứng bằng những tác phẩm có sức ảnh hưởng mạnh mẽ. Trong số đó, không thể không kể đến nhóm “Tân Thần Châu Ngũ hiệp” bao gồm Tiêu Đỉnh, Phượng Ca, Bộ Phi Yên, Tiểu Đoạn và Thương Nguyệt. Mỗi người một vẻ, một thế mạnh, một lối khai phá. Tiêu Đỉnh với tác phẩm Tru Tiên được coi là “Đệ nhất kỳ thư thời đại Internet” có phong cách viết và trí tưởng tượng thâm viễn, xứng đáng là người tiếp nối Hoàn Châu Lâu Chủ. Tuy nhiên tiếp sau Tru Tiên là gì? Người ta vẫn đang chờ đợi những trước tác mới của Tiêu Đỉnh. Ngoài ra ta còn thấy sự vươn lên của Phượng Ca với một phong phạm trầm ổn uyên bác ảnh hưởng mạnh mẽ của Kim Dung. Cũng không thể không kể đến văn phong và tình tiết sắc lạnh đầy vẻ huyền ảo của Bộ Phi Yên như một bước tiếp nối của kiểu hành văn Cổ Long. Nhiều người còn kỳ vọng vào một Tiểu Đoạn với những trang tuyệt bút thấm đẫm triết lý nhân sinh hay những tình cảm xót xa tinh tế trong văn của Thương Nguyệt. Đó đều là những người có khả năng khai phá những lối đi mới của dòng văn học kiếm hiệp.

Điểm kỳ lạ của văn học kiếm hiệp là tính tương hợp mạnh mẽ của dòng văn học này. Như nhận xét của Cổ Long: “Trong truyện tiểu thuyết trinh thám không có kiếm hiệp, nhưng tiểu thuyệt kiếm hiệp lại có trinh thám. Trong tiểu thuyết tình cảm không có kiếm hiệp nhưng tiểu thuyết kiếm hiệp lại có tình cảm. Đó là đặc tính dị biệt của tiểu thuyết kiếm hiệp”. Văn học kiếm hiệp đã trả qua nhiều thời kỳ, có những thăng trầm, có những bất ổn nhưng cứ mỗi khi tưởng như dòng văn học này suy thoái thì lại có những cái tên mới mang lại những hướng đi mới và những niềm hy vọng mới cho những độc giả mê truyện kiếm hiệp. Trong khi một số nhà phê bình vẫn chỉ coi văn học kiếm hiệp là dòng á văn học thì một số lượng lớn độc giả vẫn thích thú với dòng văn học này. Việc những trang viết của tác giả Kim Dung được đưa vào sách giáo khoa, kỷ lục phát hành của Tru Tiên tại Trung Quốc cũng như tầm ảnh hưởng của những tác giả kiếm hiệp đã lan rộng đến nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới chính là minh chứng sinh động nhất cho sức mạnh trường tồn của dòng văn học kiếm hiệp.
HOÀNG TÙNG
(Hà Nội, 2/3/2011)
(Nguồn tài liệu tham khảo: Tiểu luận Nói đến Kiếm hiệp của Cổ Long, Kiếm hiệp Ngũ đại gia của Trần Mặc, phát biểu của Lương Vũ Sinh về bộ phim Thất Kiếm và những thông tin khác từ Bách khoa Wikipedia)